LÀNG NỘN KHÊ TRÊN FACEBOOK
ĐĂNG ẢNH LÊN FACEBOOK RỒI LẤY LINK SANG BÀI VIẾT TẠI DIỄN ĐÀN SẼ ĐẢM BẢO ẢNH TỒN TẠI LÂU DÀI

Kết quả từ 1 tới 2 của 2
  1. #1
    Avatar của Admin
    Tham gia ngày
    Aug 2010
    Đến từ
    Xóm Thượng
    Bài viết
    389
    Nhuận bút ($)
    6.992,19

    Cấp độ: 38 
    Kinh nghiệm: 1.313.015
    Cấp độ tiếp: 1.460.206

    Thích
    193
    Được thích 829 lần tại 282 bài

    Cắp sách đến trường - Phạm Đ́nh Nhân

    Bài viết của tác giả Phạm Đ́nh Nhân đăng trên Blog [Thành viên mới xem được link. ]

    Thuở nhỏ tôi là một thằng bé nhút nhát, người đen đủi và bé tí tẹo. Ở nhà mọi người hay gọi tôi là "Tây đen" hoặc "Tư hon". Đi học th́ bao giờ cũng phải ngồi bàn đầu với lũ con gái, xếp hàng để vào lớp bao giờ cũng phải đứng ở hàng đầu. C̣n cái làm cho tôi khó chịu nhất là vào giờ tập thể dục, thầy giáo bắt tôi phải tập với lớp dưới v́ người tôi bé nhỏ. Tuy nhiên dù bé nhỏ, tôi vẫn chơi đủ mọi tṛ chơi như bao trẻ em khác trong làng và thực sự là một thằng bé nhà quê. Chúng tôi chơi tṛ đánh đáo bằng đồng tiền đúc. Hồi đó, bên cạnh những tờ giấy bạc Đông Dương vẫn c̣n lưu hành tiền xu bằng đồng và bằng kẽm. Một đồng bạc Đông Dương ăn một trăm đồng xu bằng đồng. Những đồng xu này đúc bằng đồng h́nh tṛn dày hai ly, đường kính ba phân, có đục lỗ tṛn ở giữa, chúng tôi thường dùng đồng tiền này làm “cái”. Ngoài ra lại có đồng tiền nhỏ hơn bằng kẽm đục lỗ vuông, gọi là tiền trinh hay c̣n gọi là đồng xèng, thông thường là tiền Khải Định có in bốn chữ “Khải Định thông bảo”. Một xu bằng hai đồng trinh Khải Định và bằng sáu đồng Bảo Đại. Đồng Bảo Đại nhỏ nhất và đúc bằng đồng thau. Chúng tôi thường dùng ba loại tiền này để đánh đáo. Tôi cũng chơi tṛ đánh khăng, đánh chuyền, chi chi chành chành, nhảy dây, chơi ô ăn quan như mọi trẻ quê khác và không có ǵ khác biệt với đa số trẻ con trong làng. Điều đó có lẽ cũng vừa ư mẹ tôi, v́ mẹ tôi luôn luôn không muốn con ḿnh khác biệt với con người khác, dù mức sống có chênh lệch. Lớn lên một chút, mẹ tôi bắt anh em chúng tôi phải tham gia vào công việc đồng áng nhưng tất nhiên chỉ là những việc nhẹ thôi, có lẽ là để quen với như cách nói của ta ngày nay là "có ư thức lao động", như đi trông thợ gặt, đi hái bông, bới khoai. Có khi c̣n phải đi hái dâu để về kịp cho tằm ăn trong thời gian nhà tôi nuôi tằm, kéo tơ và đôi khi đi chăn trâu nữa.

    Tôi bắt đầu cắp sách đến trường h́nh như vào đầu thu năm mẹ tôi vừa làm xong nhà. Mẹ tôi may cho chúng tôi mỗi đứa một chiếc áo dài thâm, với cái áo "cổ truyền" đó, một đôi guốc và chiếc quần ta màu trắng, trông có lẽ buồn cười lắm. Cho đến ngày nay tôi vẫn c̣n giữ được một kiểu ảnh chụp với y phục như thế khi tôi làm thẻ để đi thi sơ học yếu lược. Trông vừa ngộ nghĩnh vừa kỳ cục với nét mặt cau có pha chút đau khổ. Ngày đến trường đầu tiên của tôi rất đơn giản, không đẹp như trong Ngày tựu trường của Anatole France miêu tả khi cậu bé được người mẹ dắt tay đi qua vườn hoa Luxembourg: "Hàng năm cứ vào cuối thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, mẹ tôi lại nắm lấy tay tôi ......" đâu, bởi v́ từ nhà tôi đến trường chỉ có một đoạn đường lát gạch tuy đẹp, nhưng hai bên đường vẫn thấy có những băi phân trâu đây đó.

    Ngôi trường đầu tiên của tôi là một ngôi nhà ngói có hai pḥng. Nhưng lại phải chứa đến ba lớp học gồm các lớp Đồng ấu (Enfantin), lớp Dự bị (Préparatoire) và Sơ học (Elémentaire). Đó là ba lớp dưới của cấp tiểu học được phép mở ở các trường làng. C̣n ba lớp trên của cấp tiểu học là lớp Nh́ năm thứ nhất (Moyen I), lớp Nh́ năm thứ hai (Moyen 2) và lớp Nhất (Supérieur) hồi đó hay được gọi là "Cua Suưp" chỉ được mở ở cấp huyện, phủ và tỉnh. Ở huyện Yên Mô tôi, trường học có các lớp này đặt ở làng Nộn Khê, cách làng tôi bốn cây số. Ngôi trường tiểu học của tôi ở làng có một cái sân đất rất rộng, nơi mà cứ giờ ra chơi chúng tôi thả sức nô đùa và cũng là nơi gây cho tôi cái khó chịu mỗi khi đến giờ tập thể dục tôi phải xuống tập với lớp đàn em. Cuối lối đi từ cổng vào đến lớp học có hai cây bàng tán lá rộng và thấp, nơi che mát cho lũ học sinh chúng tôi ra chơi trong những ngày nắng gắt và cũng là nơi chứng kiến cảnh nước mắt lưng tṛng của những đứa bé như tôi mỗi khi bị đứa lớn bắt nạt. Vài năm sau khi tôi học hết lớp Elémentaire (lớp ba), tôi phải đi thi sơ học kiểu như chuyển cấp. Nơi thi là trường Nộn Khê và sau đó tôi học các lớp Moyen (lớp Nh́ năm thứ nhất và lớp Nh́ năm thứ hai) và Cours Supérieur (lớp Nhất) ở trường này.
    Những người sinh ra từ năm 1940 về sau này, nghĩa là hiện nay khoảng 64 tuổi trở xuống, chắc không có ai phải học những bài học tiếng Pháp mà chúng tôi hồi ấy phải học: “Nos ancêtres étaient des Gaulois” (Tổ tiên chúng ta là người Gô loa, Gô loa là tổ tiên của người Pháp) và hàng ngày phải xếp hàng chào cờ tam tài (cờ Pháp) trước khi vào lớp, hát bài Mácxâye (Marseillaise-Quốc ca Pháp) hoặc bài “Maréchal ! Nous voilà, devant toi...” (Thống chế ơi, có chúng con đứng trước người...). Thống chế Pétain là người đứng đầu chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức trong đại chiến thế giới lần thứ hai. Hàng ngày trong các lớp tiểu học phải học bằng tiếng Pháp, trừ các lớp Đồng ấu, Dự bị c̣n được giảng bằng tiếng Việt, dần dần chuyển sang học bằng tiếng Pháp và đến lớp Nhất (Cours Supérieur) phải hoàn toàn giảng và học bằng tiếng Pháp. Thực ra ở những lớp cuối tiểu học đă được giảng về văn học Pháp rồi, đă được làm quen với Les misérables (Những người khốn khổ) của Victor Hugô, với Les étoiles (Những v́ sao) của Alphonse Daudet , Les pélicans (Những con bồ nông) của Alfred de Musset rồi.

    Trong các thầy dậy tôi ở cấp tiểu học, tôi nhớ nhất là thầy Toản, thầy Đính và thầy Hiệu trưởng Phạm Gia Hồ. Thầy Toản dạy hay, nhưng thầy rất khắc nghiệt với học sinh, hồi đó nhiều học sinh và phụ huynh cho là thầy ác. Mỗi khi học sinh có lỗi, thầy phạt rất nặng. H́nh phạt nhẹ nhất là để bàn tay đặt sấp lên bàn của thầy và thầy cầm cái thước kẻ gỗ cạnh vuông cứ thế mà vụt, ít nhất cũng mười lần, mà cứ nhè góc cạnh thước mà vụt vào tay học sinh. Trẻ con chúng tôi cứ thế mà nhịn, chịu đau không dám khóc, nếu khóc lại càng bị đánh nhiều hơn nữa. C̣n h́nh phạt khác là quỳ và đi bằng đầu gối từ cuối lớp lên đầu lớp rồi lại từ đầu lớp đi xuống cuối lớp đến khi nào thầy cho thôi mới thôi. Thầy c̣n bắt phạt bằng cách quỳ quay mặt vào tường không được ngoảnh mặt xuống lớp và có khi quỳ như vậy suốt cả giờ ra chơi cho đến cuối buổi học. Cách phạt như thế ngày nay chắc bị lên án, tuy nhiên có nghiêm như thế học sinh mới chịu học, tuy rằng sự "chịu học" đó có phần ức chế thần kinh con trẻ.
    Thầy Đính lại để lại trong tôi những kư ức khác. Thầy có cách dạy trẻ con thu hút làm sao! Cách truyền đạt và giảng bài của thầy, giọng nói của thầy có sức truyền cảm và luôn luôn hướng chúng tôi về t́nh yêu quê hương đất nước. Tôi nhớ nhất là những giờ chính tả tiếng Việt và giờ Bài học thuộc ḷng. Thầy chuẩn bị nội dung bài giảng hay bài đọc chính tả một cách công phu. Tôi nhớ thầy luôn luôn có một túi hồ sơ bằng b́a màu, nhỏ bằng hai bàn tay, trong đó có sẵn những tờ phiếu bằng b́a xanh, đỏ, tím, vàng...các màu chứ không bằng giấy trắng. Trên các tờ b́a phiếu đó có những đoạn văn thầy chép bằng chính chữ viết của thầy, nét mực tím in đậm trong tâm trí tôi. Những đoạn văn hay thầy thường trích trong các tập truyện của các nhà văn Tự lực văn đoàn, nhóm Tân Dân, Phổ thông bán nguyệt san vv...Những bài văn đó thầy đọc cho chúng tôi viết chính tả, xong thầy giảng giải nét hay, vẻ đẹp của đoạn văn và bao giờ cũng thấy thầy gửi gắm ở đó ḷng yêu quê hương đất nước. Cho đến nay sau gần sáu mươi năm tôi vẫn c̣n thuộc một số trong những đoạn văn ấy, ví như đoạn tả chùa Long Giáng trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng : “Phía tây, sau dẫy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng, lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen. Mái chùa Long Giáng rêu phong đă lẩn mầu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ c̣n lờ mờ in h́nh trong cảnh nhuộm đồng một màu tím thẫm. Trong làn không khí yên tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga, như đem mùi thiền......về nơi hư không tịch mịch."

    C̣n thầy giáo Hồ th́ học sinh nào cũng sợ. Thầy chuyên dạy lớp Nhất để đi thi Primaire. Thầy là một thầy giáo dữ đ̣n. Thầy có một người con trai duy nhất tên là Phạm Gia Ninh cùng lứa tuổi với tôi và cũng cùng học với tôi. Nhưng thầy đánh con cũng rất dữ dội chẳng khác ǵ đánh các học tṛ khác. Sau giải phóng miền Bắc năm 1954 được vài năm, tôi nghe tin thầy trông xe đạp ở cửa chợ Hôm ít lâu, sau đó th́ mất vào năm nào không rơ.

    Hồi này chúng tôi học ở làng Nộn Khê cách nhà bốn cây số, hàng ngày tôi cùng với lũ trẻ khác đi đi về về và cũng có khi, nhất là vào mùa đông rét mướt, mẹ tôi lại cho tôi ở nhà Bác Giáo Nữu v́ bác cũng dạy học ở Nộn Khê và thuê nhà trọ ở đó. Cũng có khi lại đến ở nhờ nhà Cô Cậu Nhĩ, là d́ ruột tôi, lấy chồng ở Quảng Từ, nhà cũng ở sát gần trường Nộn Khê. Như trên đă nói, v́ tôi là chú bé "tư hon" mặc dù tôi đă mười hai tuổi rồi, đi học lớp nào cũng là học sinh bé nhất lớp. Măi đến năm 13 tuổi tôi được mẹ tôi cho uống một liều thuốc tễ có nhung hươu, tôi mới lớn phổng lên một chút, nhưng kèm theo đó là một trận ghẻ lở, khắp người mưng mủ v́ chất bổ phá lở loét ra ngoài. Hồi học ở trường Nộn Khê, đi học xa lại phải qua một cánh đồng trũng. Cái năm nước lụt tràn về, con đường nối từ đường cái quan (đường 59) sang Cầu Ngói bắt qua sông Càn đầu làng Nộn Khê, nước ngập đến đầu gối. Hoc sinh quê tôi đi học ở Nộn Khê phải xắn quần lội b́ bơm. Từng nhóm trẻ, tay cắp cặp, quần xắn tới bẹn, nối tay nhau lội trong nước để giữ cho nhau khỏi ngă. Tôi th́ thấp hơn các trẻ khác, nhiều khi mếu máo v́ ướt hết quần áo trước khi đến trường. Tôi c̣n nhớ rơ, có một học sinh lớn hơn tôi nhiều tuổi, nhưng vẫn c̣n đi học lớp Nhất (cua Súyp) để cố thi đỗ lấy cái bằng Ri me (Primaire), v́ anh đă thi trượt hai ba năm liền. Anh người làng Côi Tŕ tên là Huyễn, học thầy giáo Hồ ở Nộn Khê và hàng ngày đi học cũng phải đi qua con đường ngập nước ấy. Đă có một vài lần gặp tôi ở đầu đường ngập nước, thấy t́nh trạng lúng túng của tôi, anh ghé lưng cơng tôi qua hết đoạn đường dài có lẽ đến gần nửa cây số ấy. Sau này, khi hai cuộc chiến tranh kết thúc, thống nhất đất nước, chúng tôi mới lại gặp được nhau. Lúc đó anh đă là Trung tướng Hùng Phong, đă qua đến chức Chính ủy Quân khu và Quân đoàn. Gặp nhau, anh cười hỉ hả bắt tay tôi :
    - Nhân à! Cậu có nhớ ngày xưa ḿnh đă từng cơng cậu trên lưng đi học không? Anh hỏi tôi sởi lởi.
    - Có chứ! Chuyện đó nhớ đời, quên sao được. Chúng tôi cùng cười ha hả
    - Sau đó ít lâu ḿnh đi thoát ly luôn và bây giờ mới gặp nhau. Gần nửa thế kỷ rồi! Anh trầm ngâm nói.

    Th́ ra ngay khi đang đi học anh đă có những liên hệ hoạt động cách mạng mà hồi đó thường gọi là hội kín. Anh hơn tôi có khoảng bốn năm tuổi, nhưng hồi ấy anh đă rất to lớn, tuy vẫn c̣n đi học tiểu học.

    Mấy năm học cuối bậc tiểu học, t́nh h́nh an ninh có vẻ lộn xộn, một số nơi xảy ra trộm cướp. Những toán cướp đêm hoành hành một cách tự nhiên, chúng thường kéo thành từng toán hai ba đứa ban đêm đạp cửa những ngôi nhà ở xa làng hoặc những nơi hẻo lánh cướp phá lấy của cải mang đi. Tôi được kể : bọn cướp hồi đó thường dùng mă tấu và một công cụ giết người là cái mai ở đầu cán mai buộc một sợi giây để có thể lao ném ra xa để giết người. Ngoài những chuyện kể về cướp của giết người của bọn kẻ cướp, trong dân gian lại truyền tụng cái tin ở đâu cũng có hội kín và nhất là ở mạn Thái Nguyên có "bọn giặc cỏ" hoành hành. Rồi lại có tin bọn "giặc cỏ" này không cướp phá dân mà chỉ t́m đánh giết quân Nhật và quân Pháp, chẳng bao lâu sẽ xuống miền xuôi. Đó là hồi năm 1943-1944 và đầu năm 1945. Sau lại có tin truyền là "bọn giặc cỏ" đó là Việt Minh hoạt động cả ở Cao Bằng, Lạng Sơn, đang t́m cách đánh Pháp đuổi Nhật. Quân Nhật hồi đó đă sang Đông Dương được mấy năm, chúng ép chính quyền thuộc địa Pháp v́ chính quyền này theo về thống chế Pétain, cầm đầu chính phủ bù nh́n Pháp đầu hàng quân Đức cùng phe phát xít với Nhật, ư. Đối với làng quê tôi, Nhật bắt mọi nhà nông dân phải phá lúa trồng đay, cái con sông Đào nối từ sông Càn sang sông Trinh ở đầu làng tôi cũng do quân Nhật bắt đào từ hồi đó để nối với sông Nhà Lê đi vào Thanh Hóa.

    Tôi c̣n nhớ lần đầu tiên tôi thấy quân Nhật. Vào một buổi sáng mùa hè năm 1944, tôi vừa thức dậy, tay đang dụi mắt ngái ngủ bước ra hiên nhà th́ nghe thấy trong sân có tiếng nói rất lạ. Tôi mở to mắt nh́n kỹ th́ thấy hai người lính nai nịt gọn gàng, đầu đội mũ vải, vai đeo súng trường, tay cầm một cái ǵ không rơ đang x́ xà x́ xồ với ông Cố Lự, một lăo nông nhà tôi. Tôi vội gọi mọi người thức dậy. Mẹ tôi liền cho người đi mời ông Giáo Liệt. Ông là chú họ của bố tôi, rất giỏi chữ Nho mà là một thầy giáo tây học. Ông chính là người đă dậy lũ trẻ con chúng tôi học chữ thánh hiền mà tôi sẽ kể ở phần sau. Ông giáo đến, liền lấy giấy bút ra nói chuyện với tụi Nhật bằng cách viết chữ Nho, gọi là bút đàm. Th́ ra tụi này là hiến binh Nhật đang đi lùng sục hai người lính Nhật đào ngũ đă mấy ngày nay. Ông giáo Liệt có tài nói chuyện thế nào mà hầu như cả buổi sáng, những người lính Nhật này rất thích tṛ chuyện với ông. Có đúng là chúng đang đi t́m kẻ đào ngũ hay là chúng muốn ḍ la t́m hiểu điều ǵ ?

    Sau này tôi mới biết, ở thôn tôi cũng đang có người hoạt động chính trị. Họ là những nhà cách mạng tham gia vào các tổ chức bí mật chống Pháp, Nhật mà chủ yếu là những người trong họ tôi, những người tôi gọi bằng ông, bằng chú, bằng anh. Vào những năm trước khi tôi sinh ra đă có những ông họ của tôi tham gia vào những cuộc vận động cách mạng như Đông Kinh nghĩa thục, rồi vào Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu. Trước cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, chính lănh tụ Nguyễn Thái Học đă về đất Yên Mô này họp hành với các ông Hai Lẫm, ông Giáo Liệt, ông Tư Tiềm đều là con cụ ấm Cận, ông Sáu Phầm con út cụ Cả Luyện và một ông tôi gọi là anh họ thuộc ngành trưởng là ông Chánh úc, hai ba năm trước đó c̣n làm lư trưởng trong làng. Hai cụ Cả Luyện và ấm Cận là con cả và con út của cụ Thượng Phạm Thận Duật. Nghe nói có lần ông Nguyễn Thái Học đă ở lẩn trốn trong nhà thờ Bà Nghè tại nhà ông Hai Lẫm hàng tháng. Ông Tưởng Nhân Bảo cũng đă có lần về hoạt động nơi đây và khi Mặt trận B́nh Dân Pháp thắng thế, ông Tưởng Nhân Bảo c̣n đóng vai nhà tư sản mở cửa hàng ở Nghĩa Trang (Thanh Hóa) thu mua dầu chẩu cung cấp cho hăng sơn Nguyễn Sơn Hà, có nhờ ông Hai Lẫm mở đại lư ở quê tôi để dễ bề đi lại hoạt động. Có khi các nhà hoạt động họp bàn công việc ngay tại khu lăng mộ cụ Thượng Phạm Thận Duật giả làm những kẻ chơi bài chơi bạc để lừa mắt mọi người xung quanh.

    Khu lăng mộ cụ Thượng Phạm Thận Duật rất rộng lớn. Tôi không nhớ rơ rộng bao nhiêu, nhưng dưới con mắt ước lượng của tôi phải rộng gần đến 2 sào Bắc bộ gần 700 m2, cũng đặt ở xóm Trung Yên gần nhà tôi. Dẫn đến khu lăng mộ là một con đường rộng giải đá dăm hai bên bó gạch và một cái cổng gạch to tướng trông nhang nhác giống Khải hoàn môn ở Paris. Dọc theo đường là hai dăy mai trắng trổ hoa rất đẹp và trong khuôn viên lăng mộ là những hàng thông luôn luôn reo tiếng gió và lũ trẻ chúng tôi thường vào hái qủa thông về chơi. Khu lăng được bao vây bằng bốn bức tường thấp có lỗ hoa, bên trong là hương án ban thờ và ngôi mộ nằm chính giữa cũng rất lớn. Nhưng đó chỉ là ngôi mộ giả. Cụ Thượng sau khi cùng Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra vùng bưng biền Quảng Trị, được ủy thác soạn Chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân nghĩa sĩ khắp nơi đứng lên khởi nghĩa rồi Cụ nhận nhiệm vụ Khâm sai đại thần ra Bắc kỳ để chiêu tập nghĩa sĩ Cần vương. Trên đường đi ra đến Triệu Phong thuộc Quảng Trị, Cụ bị tay sai Pháp bắt đưa về Huế giam ở Thương Bạc. Tên Quan Ba t́nh báo Pháp Smith mười ngày liền không khai thác được ǵ ở Cụ . It lâu sau Pháp đưa Cụ vào giam ở Khám Lớn Sài G̣n rồi chúng lại đưa cụ ra nhà tù Côn Đảo cùng với Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính là bố của Tôn Thất Thuyết v́ chúng không bắt được Tôn Thất Thuyết.. Ba tháng sau chúng lại đưa các vị xuống tàu để đưa đi an trí ở đảo Tahiti giữa Thái B́nh Dương. Trên tàu Cụ Phạm Thận Duật đă mất khi tàu đang lênh đênh trên vùng biển Malaixia vào ngày 23 tháng 10 năm Ât Dậu (29.11.1885). Hai năm sau người nhà mới được tin và đến năm 1888 khi Tôn Thất Đính được tha về, hỏi rơ sự t́nh, người nhà con cháu mới làm lễ thành phục, làm ngôi mộ giả này với hài cốt giả là xương dâu sọ dừa kèm thêm quần áo mũ măo triều phục...Tiếc rằng ngôi mộ giả này đă bị phá đi để làm sân phơi hợp tác xă vào những năm 1961 hay 1962 ǵ đó, chỉ c̣n giữ lại được hai tấm bia đá khắc chữ Nho, úp mặt vào nhau, nay đă được phục chế để đặt vào Nhà bia tưởng niệm danh nhân Phạm Thận Duật xây năm 1995 ở quê.

    Bên cạnh khu lăng mộ cụ Thượng c̣n có khu lăng mộ Bà Nghè là con gái cụ Thượng, cũng rộng gần bằng khu lăng mộ cụ Thượng. Bà Nghè chính tên là Phạm Thị Thư, trước kia giữa cụ Tôn Thất Thuyết và cụ Thượng Phạm Thận Duật khi đang làm quan ở đất Bắc đă có lời định ước với nhau để cô Thư dành cho con trai cụ Thuyết là Tôn Thất Đàm. Sau, Tôn Thất Đàm đă anh dũng hy sinh để bảo vệ vua Hàm Nghi. Cô Thư tuy chưa làm lễ kết hôn nhưng muốn ở vậy thủ tiết thờ chồng và lặng lẽ làm giầu. Măi đến năm 35 tuổi, do anh em bà con thúc ép mới chịu lấylàm kế ông Bùi Thức, cha đẻ của Bùi Kỷ. Bùi Thức lại là em họ anh rể ḿnh là Tuần phủ Bùi Hướng Thành. Khi đó Bùi Thức đă 40 tuổi và vừa mới đồ tiến sĩ. Nhưng cuộc sống với Nghè Thức cũng chẳng được bao lâu, Bà Nghè trở về quê ở một ḿnh buôn bán làm giầu bằng nghề làm tương. Do thân phận cô đơn nên Bà Nghè đă nhận người cháu gọi bằng cô là ông Hai Lẫm, con cụ Phạm Cận làm con nuôi để thờ tự và được hưởng trọn vẹn tài sản khi bà qua đời. Ngôi lăng mộ Bà Nghè là do ông Hai Lẫm đứng ra xây.

    T́nh h́nh bất an những năm trước Cách mạng tháng Tám ở vùng quê tôi cũng như các vùng quê khác rất có lợi cho các nhà hoạt động cách mạng. Các chú và các anh trong họ tôi cũng tranh thủ thời cơ hoạt động bí mật. Họ rải truyền đơn chống Nhật bắt dân phá lúa trồng đay, chống lập kho thóc lẫm, chống bắt phu bắt lính. Chi bộ Đảng Cộng sản huyện Yên Mô hồi đó do ông Phạm Ngọc Nhĩ lănh đạo. Tôi gọi ông là Cậu Nhĩ v́ ông là chồng của d́ ruột tôi, người làng Quảng Từ nay thuộc xă Yên Từ huyện Yên Mô. Cùng tham gia trong đó có anh Phạm Phan Long, sau này trở thành Chỉ huy Trung đoàn "Bảo vệ Cụ", nay đă chín mươi tuổi. Anh Long là em ruột Cậu Nhĩ nhưng tôi lại gọi là anh v́ là chồng của chị Giáng, con gái bà Cô tôi lấy chồng ở Phượng Tŕ. C̣n ngay ở quê tôi th́ có nhiều chú và anh trong họ tôi cùng hoạt động như chú Phạm Ngô, Chú Phạm Vi Mô, Phạm Nam, Phạm Thúc Căn, Phạm Tự B́nh...; ở xóm trong th́ có Phạm Úc, Phạm Thát, Phan Phúc Từ; làng dưới Phượng Tŕ có anh em chú Vũ Mạnh Xưởng, Vũ Trọng Kính mà tôi đều gọi là chú, anh Vũ Trọng Thăng và nhiều người nữa mà tôi không biết hết. T́nh h́nh lúc đó thật sôi động. Nhưng chính quyền cai trị của Pháp cũng hoạt động ráo riết, những cuộc lùng sục ở làng tôi diễn ra luôn. Tri huyện Tước, rồi tri huyện Trần Trung Dung cho lính về khám xét nhà ông Hai Lẫm, nhà ông Sáu Phầm v́ các ông này cùng ông Chánh úc và một vài ông khác cũng đă bị bắt bớ tù đầy vào những năm ba mươi.

    Thực dân Pháp lúc bấy giờ thấy phong trào yêu nước ngấm ngầm hoạt động đang lên mạnh. Trong các nhà trường các phong trào phản kháng trong học sinh lan nhanh. Chúng đă phải dùng những thủ đoạn đuổi học, bắt học sinh bỏ tù. Để làm sao nhăng phong trào yêu nước trong giới thanh niên học sinh, thực dân Pháp bày ra các tổ chức hoạt động thể dục thể thao. Chúng thành lập các trường thể dục thể thao, đào tạo các huấn luyện viên. Các đội bóng đá thanh niên và thiếu niên được lập nên ở khắp nơi. Ngay ở quê tôi cũng có đội bóng đá. Một sân vận đông lớn cũng đă được xây dựng để cho các đội bóng hoạt động, tổ chức thi đấu với nhau. Sân vận động huyện Yên Mô đặt ở làng Nộn Khê, gần ngay trường tiểu học của huyện do thầy Hồ làm hiệu trưởng. Sân vận động cũng có đường chạy xung quanh, có hố nhảy cao, nhảy xa, có khán đài mái che, trên mái có hàng chữ Stade du Commandant Ducouroy (Sân vận động mang tên Thiếu tá Ducouroy). Ducouroy là một sĩ quan hải quân Pháp được giao phụ trách ngành thể dục thể thao lúc bấy giờ. Hôm khánh thành sân vận động cũng có cờ quạt linh đ́nh, các đội bóng và các đội thể thao ở các thôn làng, học sinh các trường học. Hôm đó tôi cũng được đi dự và sau này c̣n được đến sân bóng đó cắm trại một vài lần với tư cách là đội viên đội Hướng đạo sinh (Scout), v́ khi đó tôi là một Sói con (Louveteau – đội thiếu nhi trong tổ chức Hướng đạo). Tổ chức Hướng đạo sinh Scout hồi đó hoạt động hợp pháp theo chiều hướng tốt và hoạt động cũng rất mạnh. Tổ chức này do ông Hoàng Đạo Thuư lănh đạo.


    Giới thiệu về tác giả

    PHẠM Đ̀NH NHÂN
    Giới tính: Nam
    Kư hiệu Chiêm tinh: Cung Xử Nữ
    Ngành: Khoa học
    Nghề nghiệp: KSXD
    Nơi ở: Hà Nội - Việt Nam
    Bản thân: Là cháu 5 đời của danh nhân Phạm Thận Duật. Xuất thân là cán bộ Đoàn TNCQVN từ 1954. Năm 1957 học Kỹ sư xây dựng ĐHBK,làm công tác thiết kế và quản lư đến hết năm 1993. Từ đó chuyển sang hoạt động trên lănh vực văn hoá, sử học. Năm 1997, thành lập Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hoá Viêt Nam và là Phó Giám đốc Trung tâm. Năm 2000 thành lập Quỹ Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật và là Chủ tịch Quỹ. Năm 1996, tham gia thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, làm Tổng thư kư và hiện nay là Phó trưởng ban Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam. Từ 1994 đến nay có 16 tác phẩm được xuất bản chính thức

    Các bài cùng chuyên mục:

    TỰ HÀO LÀ NGƯỜI LÀNG NỘN KHÊ - YÊN TỪ - YÊN MÔ - NINH B̀NH
    Khách HĂY CÙNG Admin GIỚI THIỆU NONKHE.NET ĐẾN BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN NHÉ!

  2. Có 8 người thích bài viết này của Admin:

    hatbui (07-05-2015), hoarung (30-05-2011), ngu nuong (30-05-2011), nhoque (30-05-2011), NXH (03-05-2015), PVĐịnh (03-05-2015), Thu Hang AM (10-01-2012), tieukhe (21-11-2018)

  3. #2
    Avatar của PVĐịnh
    Tham gia ngày
    Apr 2013
    Bài viết
    34
    Nhuận bút ($)
    492,45

    Cấp độ: 25 
    Kinh nghiệm: 81.445
    Cấp độ tiếp: 100.000

    Thích
    646
    Được thích 204 lần tại 38 bài

    Trả lời: Cắp sách đến trường - Phạm Đ́nh Nhân

    Đọc bài viết về thời xưa cũ
    Tự nhiên tôi lại thấy nhớ nhà
    Nhớ chợ quán, đường cao, đường ṿng mả cả
    Và cánh đồng làng bát ngát bao la

    Tôi như thấy ḿnh đang đi trên đường gạch
    Vệt bụi mờ c̣n in dấu chân xưa
    Tháng ngày bên nhau đi qua cổng xiếng
    Nắng tháng năm cây phượng đó ngát hoa

    Đă bao đêm ngồi bên cống đầm hóng mát
    Tiếng mẹ à ơi kẽo kẹt bờ tre
    Lại nhớ những bước chân trên đường hồng đi học
    Hay tiếng quạt nan phe phẩy đêm hè

    Ước ǵ về thăm quê trong phút chốc
    Lẹp kẹp dép lê dong duổi khắp mọi nhà
    ăn một miếng nem chua cho đỡ tức
    Cho đỡ những ngày dong duổi măi phương xa
    TỰ HÀO LÀ NGƯỜI LÀNG NỘN KHÊ - YÊN TỪ - YÊN MÔ - NINH B̀NH
    Khách HĂY CÙNG PVĐịnh GIỚI THIỆU NONKHE.NET ĐẾN BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN NHÉ!

  4. Có 5 người thích bài viết này của PVĐịnh:

    hatbui (07-05-2015), hoarung (03-05-2015), LNg.BXL. (17-05-2015), NXH (03-05-2015), tieukhe (21-11-2018)

Từ khóa của bài viết

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •