LÀNG NỘN KHÊ TRÊN FACEBOOK
ĐĂNG ẢNH LÊN FACEBOOK RỒI LẤY LINK SANG BÀI VIẾT TẠI DIỄN ĐÀN SẼ ĐẢM BẢO ẢNH TỒN TẠI LÂU DÀI

Kết quả từ 1 tới 1 của 1
  1. #1
    Avatar của LNg.BXL.
    Tham gia ngày
    Aug 2010
    Tuổi
    79
    Bài viết
    1.409
    Nhuận bút ($)
    22.676,24

    Cấp độ: 45 
    Kinh nghiệm: 4.665.615
    Cấp độ tiếp: 5.107.448

    Thích
    4.891
    Được thích 5.782 lần tại 1.265 bài

    Ḍng sông thương nhớ. (2)

    D̉NG SÔNG THƯƠNG NHỚ. (2)
    Tùy bút.


    2

    Có nhiều giả thuyết có tính chất huyền thoại về cái tên của con sông Trinh (hoặc sông Trinh Nữ, v́ ở đọan trên, ḍng sông chảy qua làng Trinh Nữ). Theo cách lí giải này, tên sông gắn với giai thoại vua Lư Thái Tông du thuyền tại đây và gặp Tiên nữ giáng trần. Cũng có ư kiến lại cho rằng do hai bờ sông có mọc rất nhiều cây Trinh Nữ, và xưa cũng ở nơi đây có sự tích về loài cây này. Lại có một cách hiểu khác, và dựa trên cách hiểu đó, có một bài thơ đă ra đời:

    Con sông Trinh Nữ chảy cuối Làng,
    Xưa, trai gái vẫn thường ra tắm.
    Năm tháng trôi...
    Trong kí ức Làng tôi,
    Với tấm t́nh đằm thắm,
    Một ḍng xanh lặng lẽ chảy không thôi...

    Nhưng một điều ḱ lạ:
    Con gái tắm nước sông,
    Không bao giờ có chồng!

    Từ đấy, ḍng sông thành vắng vẻ,
    Không một con đ̣ dọc,
    Chẳng một bóng đ̣ ngang,
    Con gái trong Làng cũng thôi tới đó,
    Họ sợ suốt đời làm trinh nữ!

    Và,
    Buồn bă lặng thầm,
    Sông chảy giữa cô đơn...

    (Huyền thoại sông Trinh, 1990).

    Có một số chị em phụ nữ làng tôi phản đối bài thơ. Họ bảo, trong làng từ xưa tới nay, chưa từng nghe nói có chuyện đó, và như vậy là chính tác giả đă “phịa” ra! Ôi, chuyện đời là như thế! Thực hư, hư thực, nào ai trở lại ngày xưa mà biết được? Chỉ biết rằng, ḍng sông Trinh th́ nhỏ hẹp, hai bên bờ là các làng nông nghiệp, tự cung tự cấp, lại chẳng có bến băi, giang cảng ǵ để trao đổi, buôn bán cả, v́ vậy, việc giao thông đường thủy là không cần thiết, do đó, không có thuyền bè qua lại là lẽ đương nhiên. Thôi th́ tùy, bài thơ trên ai muốn hiểu thế nào th́ hiểu, chẳng giải thích làm ǵ cho mệt! Nhưng lại có nhiều người rất thích bài thơ, bởi nó gợi lên trong ḷng người đọc cái cảm giác lẻ loi, cô quạnh và buồn bă, như khi ta đứng ngắm nh́n ḍng nước chảy xuôi giữa đôi bờ vắng lặng…

    Đúng là, từ khoảng sáu, bảy chục năm về trước trở lại đây, sông Trinh đă dần dần mất đi nhiều “người bạn” đă từng cùng ḿnh sẻ chia niềm vui nỗi buồn mà thời gian phải tính bằng nhiều thế kỉ.

    C̣n đâu nữa, hai bên sông những ṭa đại thụ tuổi mấy trăm năm, mỗi độ hè về lại ríu ran tiếng các loài chim nhảy nhót trên những cành cao lập ḷe hoa đỏ, và rộn ră tiếng đùa vui của bầy em nhỏ dưới tán lá xanh!
    C̣n đâu nữa, hàng hàng những bụi tre ngà xơa mái tóc dài, ngày ngày soi bóng ḍng sông êm đềm chảy, đêm đêm nâng niu ấp ủ những cánh c̣!

    C̣n đâu nữa, cây Cầu Ngói (1) bảy gian thân yêu nối đôi bờ t́nh nghĩa, để con dân trong làng và khách bốn phương gặp lúc nắng nôi mưa gió, khi đi làm đồng hoặc đi chợ, chẳng có chỗ trú chân; để cho các em nhỏ tuổi học tṛ, tuổi chăn trâu cắt cỏ chẳng t́m đâu ra chỗ cho giấc ngủ trưa hè sau khi ngụp lặn trên sông; và, những cặp t́nh nhân cũng chẳng c̣n tựa lan can tâm sự dưới trăng vàng!

    C̣n đâu nữa, bên sông ngôi Miếu Thượng thờ Tướng quân Nguyễn Phục (2), thời vua Lê Thánh Tông, v́ nghĩa cả mà tuẫn tiết; ngôi Miếu Nam thờ Thủy tế Long vương, vị thần giúp dân trừ các loài thủy quái, ngôi Phủ thờ Mẫu, mẹ của muôn loài, theo tín ngưỡng dân gian, với các ngày lễ hội đ́nh đám rộn ràng hai bờ sông nước!

    Ḍng sông Trinh xưa kia, dù trong dù đục, người ta vẫn thường tắm gội giặt giũ, bơi lặn vẫy vùng, thậm chí c̣n vục nón làm mấy hơi cho đỡ khát lúc trưa hè. C̣n giờ đây, cánh buồm th́ vắng bóng, thuyền bè không xuôi ngược, mà bèo bồng rác rưởi đầy rẫy lập lờ trôi.

    Khi đi xa Làng, nhớ Làng, tôi lại nhớ sông Trinh! Lúc ở tại Làng, mỗi lần đi trên đê, nh́n sông, tôi thấy ḷng nặng trĩu!

    Ḷng chạnh buồn, tôi lững thững trên đê,
    Nghe xoáy nước xoáy vào tim đau nhói,
    Nghe cồn cào gió sông như ai gọi,
    Bến sông quê không một tiếng trả lời!...

    (Bến sông quê)

    V́ thế, mà sông Trinh trở thành D̉NG SÔNG BUỒN, D̉NG SÔNG THƯƠNG NHỚ trong ḷng tôi và bè bạn của tôi!

    …Giờ, sao người nỡ hững hờ,
    Để sông quạnh quẽ lững lờ buồn trôi?
    Băi hoang chẳng dấu chân người,
    Bờ không tiếng sáo, ḍng thôi cánh buồm.
    Mặc trời nắng đổ mưa tuôn,
    Mặc sông vắng vẻ u buồn, ai hay!...

    (Ḍng sông buồn).


    (Còn nữa)

    29-10-2014,
    LNg.BXL.


    Chú thích:

    (1) Cầu Ngói Nộn Khê được làm năm Gia Long Canh Ngọ (1810), lúc đầu bằng gỗ thường, ván ghép, mái rạ. Đến năm Tự Đức Mậu Dần (1878), được làm lại toàn bộ bằng gỗ lim, gồm bảy gian lợp ngói, hai bên thành cầu là hai dăy lan can và ghế ngồi, để người làng đi làm đồng bên kia sông và khách bộ hành qua lại có chỗ nghỉ chân lúc mưa gió nắng nôi.

    Năm 1951, dân quân du kích địa phương chất rơm đốt cầu để ngăn chân giặc, nhưng chúng vẫn có cách vượt qua sông được. Như vậy, việc đốt cầu là tự chặt chân ḿnh, v́ khi giặc tấn công, ta lại không có đường rút. Hơn thế nữa, một di tích lịch sử - văn hóa của cha ôngxây dựng lại do chính con cháu phá hoại! Thật đáng tiếc! (Nộn Khê niên biểu)


    (2) Ông họ Nguyễn tên Phục người xă Tùng Giang, huyện Gia Phúc, đời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Thái Ḥa, khoa Quư Dậu (1453), ông đậu đệ tam giáp tiến sĩ, làm quan Chuyển vận sứ, Hành khiển sứ đạo Thanh Hoa. Thuở vua Thánh Tông chưa làm vua th́ ông dạy cho vua học, nên khi vua tức vị, ông được cất nhắc lên chức Hàn lâm Tham chưởng viện sự, 3 lần đi sứ triều Minh, về làm Đại lư tự khanh, lại kiêm chức Tri Binh chính viện tham nghị rồi làm Thân quân ty Cẩm y vệ Chỉ huy sứ ty Thiêm sự.

    Khi vua đi đánh Chiêm Thành, ông phụng mệnh làm Phi vận tướng quân Chuyển thâu đội Tán lư, khi đến cửa biển Tư Dung (nay là Tư Hiền) bị sóng to gió lớn trở ngại không đi được, chúng quân đều sợ tội xin đi, ông nói: Thà để một ḿnh ta cam chịu 3 thước gươm, chớ ta không nỡ đem kho gạo lúa hữu hạn và nhân mạng vô tội vất bỏ một cách khinh dễ vào trong chỗ gió cuồng sóng lớn để chôn đầy bụng cá. V́ vậy mà phải đậu thuyền hoăn đợi nên việc chuyển lương bị trễ nải.

    Vua nổi giận tống giam ông vào ngục, lại có bọn cung nhân, cận thần gièm pha, nên vua mới sai xử tử ông. Sau đó vua hối hận, xuống chiếu tha tội th́ ông không c̣n nữa. Ông tuy mất nhưng rất hiển linh, nhân dân các nơi trong xứ đều lập đền miếu thờ ông. Niên hiệu Cảnh Thống (1498-1504) đời Lê Hiến Tông truy tặng “Văn Trung Chính Nghị”, triều Mạc phong thêm bốn chữ “Minh Đạo Hiển Ứng” (các vua triều Nguyễn về sau đều sắc phong gia tặng mỹ hiệu).

    Nguyễn Phục có con trai tên Nguyễn Đạm làm Thừa Tuyên sứ Thuận Hóa ra công t́m kiếm thu nhặt hài cốt của ông đưa về cải táng. Trên đường về có đàn voi rừng khoảng trăm con lũ lượt kéo đến như đi hộ tống. Mọi người nh́n nhau thất sắc. Nhưng voi không hề có ư hại ai. (ĐNCT Đà Nẵng điện tử cuối tuần).

    Các bài cùng chuyên mục:

    [B][COLOR="#800080"]。[/COLOR][FONT="arial"][SIZE="3"][COLOR="green"] LNg[/COLOR].[COLOR="red"] BXL[/COLOR]. [COLOR="blue"]NKh[/COLOR] [/SIZE][/FONT][COLOR="#800080"]。[/COLOR][/B]

  2. Có 6 người thích bài viết này của LNg.BXL.:

    Bui Xuan Huong (31-10-2014), ngu nuong (30-10-2014), nhoque (31-10-2014), NXH (30-10-2014), pndung (31-10-2014), tieukhe (31-10-2014)

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •