LÀNG NỘN KHÊ TRÊN FACEBOOK
ĐĂNG ẢNH LÊN FACEBOOK RỒI LẤY LINK SANG BÀI VIẾT TẠI DIỄN ĐÀN SẼ ĐẢM BẢO ẢNH TỒN TẠI LÂU DÀI

Kết quả từ 1 tới 1 của 1
  1. #1
    Avatar của Admin
    Tham gia ngày
    Aug 2010
    Đến từ
    Xóm Thượng
    Bài viết
    389
    Nhuận bút ($)
    6.992,19

    Cấp độ: 38 
    Kinh nghiệm: 1.299.707
    Cấp độ tiếp: 1.460.206

    Thích
    193
    Được thích 829 lần tại 282 bài

    Quê hương tôi Núi Bảng Sông Càn - Phạm Đ́nh Nhân

    Thế là gia đ́nh tôi chấm dứt cuộc sống của một gia đ́nh viên chức nơi thị thành. Cho dù có khi ở một thị trấn heo hút, xa những trung tâm náo nhiệt, nhưng nó vẫn là cuộc sống kiểu thị thành.

    V́ căn bệnh hiểm nghèo, không thể tránh được cái chết đang chờ sẵn bố tôi từng ngày, nên phải về quê để nếu có đi theo ông bà tổ tiên th́ cũng được nằm trên mảnh đất đă chôn nhau cắt rốn của ḿnh. Khi ấy chúng tôi nào có biết ǵ về những điều đau đớn ấy. Sau này tôi nghĩ quyết định trở về quê hương của bố mẹ tôi là rất đúng đắn.

    Làng quê tôi cũng như mọi làng quê trên vùng đồng bằng Bắc bộ. Cũng lũy tre xanh, cũng giếng nước ao làng, cũng những mái chùa rêu phong cổ kính và những cây cổ thụ rợp bóng, tán lá xum xuê. Nhưng nổi bật là có hai ḍng sông nằm theo dọc hai bên đông tây của làng và c̣n có những ngọn núi đá vôi có thể nói là cao sừng sững. Theo đường quốc lộ 1A, hoặc theo dọc đường xe lửa từ Huế trở ra, đến ga Ghềnh, cách thị xă Ninh B́nh 8 cây số, rẽ về phía đông đi theo đường cái 59 khoảng16 cây số nữa là đến quê tôi.

    Quê tôi là một vùng đất văn hiến. Câu cửa miệng “Yên Mô tứ thôn” trong dân gian ngày xưa là để chỉ bốn thôn Yên Mô thượng, Thiên Tŕ (sau đổi là Phượng Tŕ), Côi Tŕ và Nộn Khê. Đó là những thôn có nhiều người đỗ đạt khoa bảng làm quan trong Triều như Hoàng Giáp Ninh Địch , Tiến sĩ Ninh Tốn , Nguyễn Tuyên người Côi Tŕ, Phạm Thận Duật người Yên Mô thượng, Vũ Phạm Khải người Phượng Tŕ và Phạm Chấn Lang, Phạm Văn Hoán người Nộn Khê.

    Quê tôi có hai ḍng sông. Ở phía tây làng có con sông Trinh nối liền với sông Vân ở phía bắc và nối với sông Nhà Lê ở phía nam rồi chảy vào Nga Sơn Thanh Hoá dưới gầm dăy núi nhô ra cửa biển Thần Phù. C̣n ở phía đông làng có con sông Càn cũng thông ra sông Vân và sông Đáy. Sát ngay bên ḍng sông Trinh là ngọn núi Bảng, c̣n gọi là núi Dắng. Dắng là tiếng địa phương tức là trông, nh́n, ngắm. Gọi là núi Dắng v́ đó là ngọn núi xưa kia ngư dân ra khơi thường lấy làm mục tiêu để đưa thuyền về đất liền. Ngọn núi này có tên chữ là Vọng Sơn mà Phạm Thận Duật, người con lỗi lạc của quê hương tôi và cũng là ông tổ 5 đời của tôi đă lấy làm tên hiệu của ḿnh. Dưới chân núi Bảng là ngôi Đàn họ Phạm chúng tôi đă được xây dựng trên 200 năm, từ giữa thế kỷ thứ XVIII. “Núi Bảng sông Càn” là biểu tượng của quê tôi, nói lên cái khí thiêng sông núi của đất này và cũng là niềm kiêu hănh của dân làng. Nó ăn sâu trong tâm khảm của người dân, nhất là đối với những người con xa quê hương, nó da diết tự hỏi như trong câu thơ của Phạm Tăng, một hoạ sĩ kiêm thi sĩ người Yên Mô thượng :

    Có ai c̣n nhớ Yên Mô
    Sông Càn, núi Bảng đến giờ c̣n không ?

    Bên ḍng sông Trinh về phía nam núi Bảng c̣n có ngọn núi Voi. Nó giống như một con voi nằm phủ phục. Ngọn núi này c̣n có nhiều tên chữ như Tượng Sơn, Mă Yên, Càn Nhai. Thượng thư Ninh Tốn người Côi Tŕ đặt tên là Chuyết Sơn, cũng là tên hiệu của ông. Nhà văn thân chủ chiến dưới triều Tự Đức là Vũ Phạm Khải, người Phượng Tŕ lại đặt là Ngu Sơn và lấy luôn tên đó làm tên hiệu của ḿnh. Về phía nam núi Voi có một ngôi chùa nằm trong hang rất rộng lớn gọi là Chùa Hang và một ngôi đền thờ thành hoàng làng là Lê Niệm, vị tể tướng thời Lê đă có thời gian đóng quân tại đây và tiến hành đắp con đê Hồng Đức năm 1475. Ngôi đền này nay là một di tích lịch sử đă được xếp hạng. Dưới chân núi Voi c̣n có một di tích lịch sử khác, đó là ngôi mộ Vũ Phạm Khải, danh nhân văn hoá và ngôi Đàn họ Vũ.

    Xưa kia núi Bảng cũng như núi Voi đều là những ngọn núi sát biển. Toàn bộ chân núi về phía đông đă bị sóng biển đánh ṃn, mặt lơm vào trong. Dưới chân núi, nằm sâu trong ḷng đất c̣n có nhiều vỏ ṣ, trai hến chứng tỏ xưa kia nơi đây là băi biển nằm trong vụng biển Thần Phù, một cửa biển dữ dội đă đi vào ca dao vùng quê :

    Lênh đênh qua cửa Thần Phù
    Khéo tu th́ nổi, vụng tu th́ ch́m

    Làng Yên Mô thượng chúng tôi, phía tây là ḍng sông Trinh, phía đông là sông Càn, xa xa là biển. Nơi đây là đầu mối giao thông từ bắc vào miền trung vượt qua dăy Tam Điệp, con đường huyết mạch của những thế kỷ trước. Từ năm 1564 do chiến tranh Trịnh-Mạc mới có con đường thiên lư qua Đồng Giao, Chợ Ghềnh như hiện nay. Núi Bảng đứng riêng rẽ hơi tách rời với dăy Tam Điệp, từng chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử xảy ra trên mảnh đất này : những trận đánh, những cuộc hành quân từ thời vua Hùng mở nước đến các triều đại Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê; những cuộc hành quân đi b́nh Chiêm trên đường bộ và đường biển qua cửa biển Thần Phù; cuộc khởi nghĩa của vua tôi nhà Hậu Trần do Trần Ngỗi lên ngôi tại đây chống lại quân Minh vào năm 1407. Ngọn núi này cũng được chứng kiến sự kiện xảy ra vào giữa thế kỷ thứ 16 (năm 1545), cũng tại nơi đây do sự tranh chấp quyền hành mà Nguyễn Kim, ông tổ nhà Nguyễn đă bị đầu độc .
    Làng Yên Mô chúng tôi xưa kia là một băi bồi có nhiều cồn cát nằm sát cửa biển Thần Phù. Nơi đây có một số cư dân, chủ yếu là dân chài đi biển vào đây lập nghiệp với các ḍng họ Phạm, họ Phan, họ Mai, họ Lê, họ Đỗ, họ Nguyễn từ những thế kỷ trước. Cuối thế kỷ 15, khi đă có con đê Hồng Đức biến vùng băi bồi thành nội đồng để cư dân cày cấy làm ruộng th́ có sự tranh chấp đất đai ruộng hoang giữa làng Yên Mô một bên và các làng Côi Tŕ và Nộn Khê một bên. Sự tranh chấp đất đai gây ra đánh nhau, hiềm khích giữa hai bên đến mức độ thành những câu phương ngữ truyền miệng của dân làng Yên Mô :

    Vật giao Côi Tŕ hữu,
    Vật thú Nộn Khê thê....... (và c̣n nữa)

    Nghĩa là : Không kết bạn với Côi Tŕ
    Không lấy vợ người Nộn Khê

    Nói về chuyện ở các làng quê khi xưa th́ ở đâu cũng thế. Có nhiều chuyện đáng kể cho các thế hệ sau nghe qua ông cha kể lại như là một chứng tích lịch sử. Sự tranh chấp đố kỵ giữa các làng nhiều khi quá đỗi nặng nề. Ví như làng trên Côi Tŕ, vào cuối triều Lê có Thượng thư Ninh Tốn làm mở mày mở mặt cho làng Côi Tŕ, sau này lại theo về triều Tây Sơn, dân làng Côi Tŕ cậy thế lấn át dân Yên Mô gây mất đoàn kết. Hiềm khích nhau đến mức độ văng cả những câu tục tĩu, chửi bậy, ví như :

    Côi Tŕ ỉa lỳ ra khố
    Yên Mô vác gậy đánh bố Côi Tŕ

    Ngày nay ghi lại để mà cười vui cái ngộ nghĩnh của dân làng, v́ dù sao đó cũng là chứng tích của thời xưa.

    Nhưng dân Yên Mô cũng công nhận Cụ Hoàng Giáp Ninh Địch, chú của Thượng thư Ninh Tốn làm một việc có ích cho Yên Mô, như đă có công di chuyển được Văn từ hàng huyện, nơi thờ cúng các bậc tiên nho và là biểu tượng của nền văn hiến của hàng huyện, từ làng Tiên Hưng về làng Yên Mô vào năm 1733. C̣n đối với Ninh Tốn người Côi Tŕ làm đến Thượng thư, nhưng dân Yên Mô không nể phục lắm. Người ta c̣n lưu truyền câu chuyện Ninh Tốn có dấu hoàng phi nhà Lê cùng cả kho vàng trong vùng, danh sách liệt kê của báu c̣n lưu trên bàn thờ Ninh Tốn, nên năm 1935 Nguyễn Văn Vĩnh cùng với một người Pháp là A.Clémenti, hai người t́m vàng này kéo nhau về chợ Bút quê tôi căng lều cả tuần lễ nghiên cứu t́m ṭi đào của.

    Lại c̣n chuyện cắt tai thủ lợn tế thần để đem đi biếu quan Thượng. Làng Yên Mô tôi có ngôi miếu rất to, có lẽ to nhất vùng. Miếu thờ thành hoàng làng là Câu Mang hoàng đế, hay c̣n gọi là Thần Mo. Vào thời Thượng thư Ninh Tốn ở Côi Tŕ đang tiếng tăm lừng lẫy, dân làng Yên Mô hàng năm tế thần phải rước thủ lợn lên biếu quan Thượng. Sự suy tôn quá đáng vị quan của làng bên làm cho lư trưởng làng Yên Mô là Đồ Hoàn bực dọc. Thấy tráng đinh sắp rước thủ lợn đi biếu, ông cản lại. Các hương chức và bô lăo can ngăn th́ Đồ Hoàn bảo : “Các ông sợ thù oán th́ cứ mang sỏ (thủ) lợn đi mà biếu!” Miệng nói, tay ông cầm dao sẻo ngay cặp tai lợn làm cho phẩm vật không c̣n ra ǵ nữa.

    Làng Yên Mô thượng chúng tôi có ba dải đất cao chạy song song, giữa các dải đất cao là các dải thấp gọi là rọc, như Rọc Đ́nh, Rọc Sỏi. Trên các dải đất cao là cư dân ở. Dải đất phía tây gần núi Bảng gồm có xóm Họ, xóm Đ́nh, xóm Trong (xóm Sủ), xóm Mô. Dải đất cao thứ hai gồm các xóm Trên, xóm Giữa, xóm lẻ tức là các xóm Nam Yên, Trung Yên, Đông Yên. Dải đất cao thứ ba nằm sát con đê Hồng Đức. Chạy thẳng góc với ba dải đất trên là con đường xuyên xuốt từ đông sang tây, từ đê Hồng Đức vào tận núi Bảng, tạo nên thế đất mà các cụ khi xưa nói là làng tôi có h́nh chữ vương ( ). Đấy là nói về đất thổ cư, nơi dân làng cư ngụ, c̣n đồng ruộng quê tôi th́ bạt ngàn, kéo suốt từ sông Trinh sang sông Càn. Về phía Bắc kéo lên tận gần Nộn Khê, qua cả phía ngoài làng Côi Tŕ. Những cánh đồng với những địa danh đọc lên vần điệu như một bài ca : Đồng Tân, Đồng Lách, Sếch Vạn, Quan Đeo, Đồng Mèo, Cống Khỉ, Đồng Lũng, Quan Dung, Sủ Tṛng, Mả Nứa....

    Con đê Hồng Đức chạy qua làng tôi được đắp vào năm 1475, thời vua Lê Thánh Tông. Dọc theo đê Hồng Đức kéo dài từ Thủ Mật trở vào, ở phía đầu làng có xóm Đông Lân với chợ Bút cũ, tiếp theo là dải đất có nhiều cây cối um tùm, nhiều cây cổ thụ với miếu thờ thành hoàng làng gọi là Miếu Tiên Nông thờ Câu Mang hoàng đế, hay c̣n gọi là Thần Mo. Ngôi miếu này có thể có trước đời Lư hoặc ít nhất là đă được xây dựng đầu đời Lư v́ theo Lĩnh Nam trích quái, vua Lư Thánh Tông (1054-`1072) đă có sắc phong cho thần Câu Mang là thành hoàng làng, nhưng khi đó chỉ là một ngôi miếu nhỏ ở về phía tây "Bọng Tôm", nguyên là một vụng nước nhỏ. Tương truyền, ngày xưa có một ông lăo làm nghề bắt tôm. Một buổi chiều ông thả vó ở Bọng Tôm, sáng hôm sau ra thấy trong vó có một khúc gỗ, ông vứt đi. Hôm sau lại thấy khúc gỗ đó trong vó, ông đem vứt thật xa. Hôm sau nữa lại thấy khúc gỗ đó, ông ngờ là có quỷ thần, bèn cầm khúc gỗ lên trên băi mà thắp hương cúng, từ đó ông đánh được nhiều tôm. Tiếng đồn ra chợ Tiên Nông gần đó. Người buôn bán ở chợ đến cúng thắp hương, thấy hàng bán chạy, cho là thiêng nên hùn vốn góp tiền lập nên một miếu tranh nhỏ. Đó là sự tích truyền lại của dân làng khi xưa. Theo thần tích về thần Câu Mang ở miếu Tiên Nông th́ vào tháng 11 năm Canh Dần (1470) vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành cùng với Thái Bảo Lê Niệm kéo thuỷ binh qua cửa biển Thần Phù dừng lại nghỉ đêm, có ghé vào miếu khấn vái xin thần phù hộ. Sau đưa chiến thuyền vào tận Quy Nhơn, chiếm thành Đồ Bàn, bắt được vua Chiêm Thành là Trà Toàn, nên khi thắng trận trở về đă phong tước vương cho thành hoàng làng để ghi ơn thần đă có công phù hộ cho chiến thắng. Miếu Tiên Nông đă được tu sửa nhiều lần và vào năm 1870, khi cụ Phạm Thận Duật đang làm Bố chính tỉnh Bắc Ninh đă cho tu sửa, cúng tiến đồ thờ và khắc bia đá đặt ở miếu. Đó là tấm bia Yên Mô sơn xuyên nhân vật bi kư nói về sông núi và nhân vật đất Yên Mô. Tấm bia nay không c̣n nữa, nhưng bài văn bia nay vẫn c̣n lưu trong Quan Thành văn tập .

    Khi tôi c̣n nhỏ, ngôi miếu c̣n nguyên vẹn, nhiều toà nhà ngang dọc, nhà tiền đường năm gian rộng răi, có cả nhà trung đường và hậu cung lúc nào cũng đóng kín âm u. Các toà nhà tả hữu vu thênh thang. Hàng năm dân làng cúng tế hoặc họp Hội đồng các kỳ hào kỳ mục đều diễn ra ở đây. Sau Cách mạng, nơi đây là trụ sở của Uỷ ban xă. Nhiều cuộc tuyển quân trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta cũng diễn ra ở đây. Ngôi miếu này c̣n là nơi tổ chức các cuộc triển lăm trong kháng chiến, tổ chức những cuộc đấu quyền Anh của cả tỉnh hoặc cả Khu Ba, tụ tập được nhiều vơ sĩ quyền Anh. Ngôi miếu này c̣n là nơi tổ chức lập toà án tỉnh hoặc khu xử các vụ Việt gian phản động. Ở giữa sân miếu rộng thênh thang, người ta xây một sân khấu nổi và là nơi tổ chức những cuộc biểu diễn nghệ thuật. Những đoàn tuồng, chèo và kịch nói đă về đây biểu diễn nhiều lần với những tên tuổi các nghệ sĩ như Aí Liên, Bích Hợp. Anh Đệ, Ngọc Dậu vv… Nhiều vơ sĩ nổi tiếng đă về đây như vơ sĩ Vĩnh Tiên, vô địch Đông Dương về biểu diễn và dạy vơ. Và quê tôi cũng đă đóng góp một vơ sĩ nổi tiếng, vô địch tỉnh . Ông là vơ sĩ Nhuế, tôi gọi ông là bác họ. Người nổi tiếng về vơ Tàu như anh Liệu, là con ông bác tôi; nổi tiếng về vật là chú Lô, người em họ tôi và ở thôn dưới có anh Thăng, anh con bà bác, đoạt giải đua xe đạp của tỉnh. Thời bé, tôi thích nhất là các ngày lễ hội được tổ chức tại đây, xem rước kiệu, những chiếc kiệu tám đến mười sáu người khiêng; xem tế lễ trống chiêng rầm trời, các cụ già trong xiêm áo xanh xanh đỏ đỏ, đầu đội mũ tế có tai, chân đi giầy hia, quỳ xuống đứng lên phủ phục lễ bái đều theo lệnh hô "hơng, bái" nhịp nhàng cùng với tiếng đàn sáo của phường bát âm. Không những thế c̣n được đi xem biết bao nhiêu tṛ chơi như kéo co, đánh đu, đấu vật và tôi thích nhất là được xem đánh cờ người và tổ tôm điếm. Cờ người th́ nay vẫn c̣n, nhưng tổ tôm điếm th́ từ Cách mạng tháng Tám thành công cho đến nay tôi không thấy nữa. Đám tổ tôm điếm tổ chức trên một khu đất rộng bên canh miếu thờ, xung quanh có năm cái cḥi cao bằng tre nứa lá c̣n gọi là năm điếm, sàn điếm ở trên cao quá đầu người. Trong cḥi là năm cụ chơi tổ tôm, mỗi cụ ngồi một cḥi hay một điếm với một cái trống con v́ thế mới gọi là tổ tôm điếm. Dưới sân khu đất là một cái bàn để "quân nọc" tức là phần bài thứ sáu và có một người đi rao các quân bài bằng cách hát thơ, những vần thơ được hát bay bổng rất hay, nội dung tương ứng với các con bài đang rao, cửa nào ăn con bài đó th́ đánh hiệu trống. Đó cũng là một sinh hoạt văn hoá tinh thần, tiếc rằng nay không c̣n nữa. Sau này khi lớn lên, nhất là những ngày nằm bệnh viện nghỉ ngơi rỗi răi, tôi mới biết chơi tổ tôm và mới thấy đó là một thú chơi rất khoa học. Để "ù" được, tức là thắng được, người chơi phải có đầu óc tính toán sắp xếp một cách trí tuệ, kiểu như giải một bài toán. Đó là một thú tiêu khiển thanh tao nếu loại trừ khía cạnh ăn tiền kiểu bài bạc.

    Ngoài ngôi miếu kể trên, làng tôi c̣n có ngôi “Văn từ” nữa. Đó là nơi thờ các bậc tiên nho, từ Khổng tử trở xuống. “Văn từ” là biểu tượng văn hiến của hàng huyện. Ngôi văn từ hàng huyện này cũng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm mà tôi sẽ kể ở đoạn sau. Làng tôi c̣n có hai ngôi chùa nữa. Một ở phía bắc đầu làng gọi là chùa Bắc, tên chữ là chùa Phượng Tŕnh, c̣n ở phía nam làng có chùa Nam hay c̣n gọi là chùa Mạo. Ngày c̣n bé tôi hay theo mẹ lên chùa này cúng lễ. Ngoài ra c̣n có ngôi đ́nh trống vắng, trước cửa đ́nh có một cái giếng to và sâu. Các cụ bảo ngôi đ́nh đó xưa kia là trạm dừng chân trên con đường thiên lư vào nam ra bắc qua dẫy Tam Điệp từ những thế kỷ trước, khi chưa mở con đường cái quan qua Đồng Giao, Quán Cháo mà ngày nay gọi là đường số Một. Ngoài các đ́nh chùa miếu mạo, ở làng tôi các loại nhà thờ tổ, các đàn họ, các am và miếu nhỏ th́ nhiều nhiều lắm. Bên cạnh những công tŕnh đó là những cây cổ thụ quanh năm cành lá xum xuê, những gốc đa , những cây gạo to lớn về mùa hè hoa nở đỏ rực trời.

    Núi sông, đền chùa miếu mạo rợp bóng cây cổ thụ và những con đường lát gạch đẹp đẽ do tục lệ của làng quy định những cô gái làng đi lấy chồng xa phải đóng góp. Những cánh đồng màu quanh năm tươi tốt, những ḍng sông trên bến dưới thuyền bên chợ quê tấp nập. Cảnh vật làng quê tôi như ẩn một sức mạnh thần bí, một khí thiêng sông núi bao trùm làm cho đời sống cư dân có phần mát mặt.

    Đáng tiếc rằng những cái đó ngày nay không c̣n nữa. Cái lắng đọng trong tâm hồn tôi từ thuở ấu thơ đến thời niên thiếu là một quê hương tôi đầm ấm, trù phú, xanh tươi và tràn đầy khí thiêng sông núi. Đối với tôi h́nh như có một cái ǵ đó rất linh thiêng. Khi lớn lên phải xa quê v́ chiến tranh loạn lạc, sau có lẽ đến một phần tư thế kỷ mới lại trở về quê hương th́ cái cảm giác đầu tiên của tôi là buồn bă, buồn bă vô cùng v́ không c̣n những cái linh khí quư giá khi xưa. Nó tiêu điều quá, nghèo nàn quá. Sông núi vẫn c̣n đấy, nhưng cảnh vật, nhà cửa, đền đài miếu mạo, cây cối, những con đường lát gạch đẹp... không c̣n nữa. Chiến tranh, chiến tranh đă lấy đi mất cả, lấy đi không chỉ những cái vật thể của làng quê mà c̣n lấy cả những cái phi vật thể lắng đọng trong mỗi con người. Nếp sống văn hoá truyền thống khi xưa h́nh như cũng mất đi, người ta không c̣n lễ bái, không c̣n chùa để đến nơi cửa Phật, không c̣n miếu để tế thần, không c̣n văn từ để tưởng nhớ các bậc tiên nho như Chu Văn An, Lư Thánh Tông, Lê Thánh Tông, thậm chí cả thờ cúng ông bà tổ tiên cũng có những người không nghĩ đến nữa, v́ cuộc sống thực tế hàng ngày khi ấy cứ lôi cuốn họ đi. Gần 30 năm sau khi thống nhất đất nước, đời sống vật chất có khá hơn lên. Đă không c̣n nhà gianh nữa, đă có tivi, xe máy, đă có phố xá của làng, nhưng dưới con mắt tôi th́ vẫn c̣n nghèo lắm so với những làng xă xung quanh, ngay cả đời sống văn hoá tâm linh. Nguyện vọng của dân là có ngôi chùa khang trang, là được khôi phục lại miếu thờ thành hoàng làng để dân làng sẽ được che chở phù hộ và vươn lên hơn nữa, họ tin là như vậy. Nhưng vẫn c̣n khó khăn lắm.

    Nói dông dài về quê hương nhiều là để bộc lộ tấm ḷng tôi, tâm hồn tôi với quê cha đất tổ suốt từ khi lên bốn tuổi tôi trở về quê cùng bố ốm và cả gia đ́nh cho tới ngày nay tuổi đă đến lúc “cổ lai hy”, trên bảy mươi rồi.


    Tác giả: Phạm Đ́nh Nhân

    Nguồn [Thành viên mới xem được link. ]

    DangKhoaLove (st)

    Các bài cùng chuyên mục:

    TỰ HÀO LÀ NGƯỜI LÀNG NỘN KHÊ - YÊN TỪ - YÊN MÔ - NINH B̀NH
    Khách HĂY CÙNG Admin GIỚI THIỆU NONKHE.NET ĐẾN BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN NHÉ!

  2. Có 5 người thích bài viết này của Admin:

    hoarung (30-05-2011), ngu nuong (30-05-2011), nhoque (30-05-2011), pndung (09-09-2011), Tâm Đức (30-05-2011)

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •